Header Ads

Hồi Ký Của Con Cún Vàng


"Hồi Ký Của Con Cún Vàng" (Memoirs of a Yellow Dog) là một truyện ngắn hài hước xuất bản năm 1906 của O. Henry, được kể lại dưới góc nhìn của một chú chó lông vàng tên là Lovey.

Chú chó sống trong một căn phòng chật chội của một chung cư ở thành phố New York cùng với một người phụ nữ độc đoán, lấn lướt và người chồng nhu nhược, luôn bị vợ áp chế.

Lovey chứng kiến ​​sự khốn khổ trong chính cuộc sống của nó cũng như người chồng phải chịu đựng mỗi ngày.

Sau khi nhận được gợi ý từ một chú chó hàng xóm, Lovey dẫn ông chủ của nó vào một quán rượu, nơi người chồng, cuối cùng, cũng trút bỏ được vẻ rụt rè, nhu nhược. Được tiếp thêm can đảm nhờ những ly rượu whiskey, ông ta tháo vòng cổ cho chú chó, để cho nó được tự do rời bỏ cuộc sống hiện tại. Thế nhưng, thay vì bỏ đi, chú chó vẫn trung thành, sát cánh bên ông chủ, với ý nguyện cả hai cùng chia sẻ sự khốn khổ dưới sự khắc nghiệt của người phụ nữ kia.

Chắc là quý vị đọc giả, hay đọc thiệt, cũng chẳng đến nỗi quá ngạc nhiên khi đọc một bài viết do chính một con vật viết ra đâu nhỉ. Trong các câu chuyện ngụ ngôn mà ông Aesop, đã từ kể từ thời Hy Lạp cổ đại, cách nay hơn 3 nghìn năm về trước, cho thấy rằng loài vật cũng có trí thông minh và ngôn ngữ chẳng kém gì con người.

Thế nhưng, quý vị  đừng mong đợi thứ văn chương kiểu cách, như các nhân vật gấu Bearoo, rắn Snakoo hay hổ Tammanoo trò chuyện trong những cuốn sách về rừng xanh cho thiếu nhi. Tôi đây, chỉ là một chú chó vàng – kẻ đã dành phần lớn cuộc đời mình trong một căn phòng chung cư tồi tàn ở New York, cuộn mình ngủ trong góc nhà trên một mảnh vải cũ lấy từ chiếc váy lót bằng vải satin (chiếc váy mà bà chủ từng làm đổ rượu vang đỏ lên trong bữa tiệc của hội phu nhân của những người phu khuân vác ở bến tàu) – thì làm sao có thể trình bày được những khả năng sử dụng ngôn từ hoa mỹ được chứ?

Tôi sinh ra là một chú cún lông vàng; chẳng rõ ngày tháng, nơi chốn, giống nòi hay cân nặng. Ký ức đầu tiên của tôi là cảnh một bà lão đặt tôi trong chiếc giỏ tại góc phố Broadway và đường Hai mươi ba, cố gắng bán tôi cho một bà khách qua đường đẫy đà, loè loẹt son phấn, và sực nức nước hoa rẻ tiền.

Bà lão ấy ra sức quảng cáo tôi, khẳng định chắc nịch rằng tôi là giống chó lai thượng hạng: Pomeranian-Hambletonian-Red-Irish-Cochin-China-Stoke-Pogis-Fox-Terrier. Giống nòi này rất đặc biệt, chẳng mấy ai có thể đọc qua dăm lần, bảy lượt, mà có thể còn nhớ được cho đến ngày hôm sau. 

Bà khách to béo nọ lục lọi tất cả các túi, bới tung đủ thứ vải vóc, rốt cuộc cũng tìm thấy tờ năm đô-la, rồi đành chặc lưỡi nhún vai mà mua tôi. Kể từ khoảnh khắc đó, tôi bỗng nhiên trở thành thú cưng — một "cục cưng bé bỏng" được cưng chiều hết mực. 

Này quý bạn đọc thân mến, đã bao giờ bạn rơi vào cảnh bị một người phụ nữ nặng cả trăm ký — người tỏa ra mùi phô mai Camembert quyện cùng hương nước hoa Peau d'Espagne — bế thốc lên, rồi dụi mũi khắp người bạn, miệng không ngừng thốt lên bằng chất giọng yểu điệu như ca sĩ opera Emma Eames: "Ôi chao, cục cưng, bé bỏng, đáng yêu, cưng ơi là cưng của mẹ nào?"

Từ một chú cún lông vàng, tôi lớn lên thành một con chó lai tạp chủng, trông chẳng khác nào sự kết hợp giữa một chú mèo Angora và một thùng chanh. Thế nhưng, bà chủ béo tốt của tôi chẳng hề hay biết. Bà ấy cứ đinh ninh rằng hai chú cún nguyên thủy mà ông Noah từng lùa lên con tàu huyền thoại kia thực chất chỉ là một nhánh phụ trong dòng dõi tổ tiên của tôi. Phải cần đến tận hai nhân viên cảnh sát mới ngăn được bà ấy ghi tên cho tôi tham gia tranh giải dành cho giống chó săn Siberia tại Madison Square Garden.

Để tôi kể cho bạn nghe về căn phòng của toà chung cư đó. Tòa nhà này cũng chẳng khác gì bao tòa nhà chung cư bình thường khác ở New York: sảnh vào lát đá cẩm thạch Parian, còn các tầng trên thì lát bằng các loại đá trải đường, rẻ tiền. Căn phòng của bà chủ tôi nằm ở tầng ba — à không, chính xác là phải leo ba tầng cầu thang mới tới nơi. Bà ấy thuê căn phòng trống, rồi sắm sửa những món đồ căn bản: một bộ bàn ghế phòng khách kiểu cổ từ năm 1903 (không có đệm bọc), một bức tranh in màu vẽ các nàng geisha trong một quán rượu ở Harlem, một chậu cây cao su, và cả một ông chồng nữa.

Lạy thánh mớ bái! Đó là một gã đàn ông đi trên hai chân mà tôi thấy thật đáng thương. Ông ta là một người đàn ông nhỏ bé với mái tóc màu cát và bộ ria mép trông khá giống ria của tôi. Bị vợ lấn lướt ư? – chà, cứ như thể lũ chim tu-căng, hồng hạc và bồ nông đều đang chĩa mỏ vào ông ta vậy. Ông ta vừa rửa bát đĩa, vừa nghe bà chủ tôi kể lể về những món đồ rẻ tiền, rách rưới mà người phụ nữ mặc áo khoác lông sóc ở tầng hai phơi trên dây. Và mỗi buổi chiều, trong lúc bà chủ chuẩn bị bữa tối, bà lại bắt ông ta dắt tôi đi dạo bằng một sợi dây buộc vào cổ.

Nếu đàn ông biết phụ nữ thường làm gì khi ở một mình, họ sẽ chẳng bao giờ kết hôn. Nào là nhấm nháp kẹo lạc giòn, thoa chút kem hạnh nhân lên cơ bắp vùng cổ, bát đĩa thì để nguyên chưa rửa, tán gẫu nửa tiếng với anh chàng giao nước đá, đọc lại xấp thư cũ, ăn vài quả dưa muối rồi uống hai chai rượu mạch nha, lại còn dành cả tiếng đồng hồ dán mắt vào lỗ thủng trên rèm cửa để nhìn sang căn phòng phía bên kia — đại loại chỉ có vậy thôi. Thế rồi, trước khi chồng đi làm về khoảng hai mươi phút, bà ấy vội vàng dọn dẹp nhà cửa, chỉnh lại búi tóc giả cho khéo để không bị lộ, rồi bày biện đống đồ khâu vá ra như thể đang bận rộn làm việc gì đó — tất cả chỉ là màn kịch kéo dài dăm mười phút mà thôi.

Cũng may là bà chủ nhà này không thuộc "diện":

"Thấy anh chăm chỉ em thương,
Anh mà thất nghiệp kiếm đường em dông."

Hoặc giống như bà hàng xóm, cách đây mấy phòng, thỉnh thoảng vẫn nổi hứng ông ổng hát theo radio. Bái thiên địa, bái quỷ thần, mỗi lần bà ấy lên tiếng thì chẳng khác nào mèo hoang gào đực giữa ban ngày.

Tôi đã sống một cả một kiếp chó trong căn phòng đó. Hầu như suốt cả ngày, tôi chỉ nằm trong góc phòng, nhìn người đàn bà béo ục ịch kia giết thì giờ. Đôi lúc tôi chìm vào giấc ngủ, mơ màng về những chuyến rong ruổi, đuổi theo lũ mèo vào tận tầng hầm, hay gầm gừ với mấy bà lão đeo găng tay đen — đúng bản năng của một chú chó. Rồi bà ta lại lao đến, thốt ra đủ thứ lời lẽ ngớ ngẩn kiểu như dành cho chó cảnh, rồi hôn lên mũi tôi — nhưng tôi biết làm sao được chứ? Chó thì đâu có nhai được đinh hương để khử mùi.

Tôi bắt đầu thấy tội nghiệp cho ông chồng của bà ta – thề với thánh thần, đúng là như vậy đấy. Chúng tôi trông giống nhau đến mức ai gặp ngoài đường cũng phải ngoái nhìn; thế là chúng tôi rảo bước trên những con phố mà xe ngựa của kẻ nhà giàu hay chạy qua, rồi lại leo lên mấy đống tuyết còn sót lại từ tháng Mười Hai năm ngoái ở những khu phố của giới bình dân.

Một buổi tối nọ, khi cả hai chúng tôi đang dạo bước như thế – tôi thì cố ra vẻ là một chú chó Saint Bernard thượng hạng, còn ông chủ thì cố tỏ ra mình sẽ không "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay" xuống đầu của gã chơi đàn dạo đầu tiên mà ông nghe thấy đang chơi bản "Hành khúc đám cưới" của Mendelssohn – tôi ngước nhìn ông và, theo cách riêng của mình, tôi lên tiếng:

"Sao trông ông ủ rũ thế, cái gã da bọc xương kia? Bà ấy đâu có hôn ông. Ông cũng chẳng phải ngồi vào lòng bà ta rồi nghe những lời lẽ mà nếu đem so với kịch bản của một vở hài kịch âm nhạc, thì kịch bản đó bỗng chốc nghe chẳng khác nào những lời châm ngôn của triết gia Epictetus. Ông nên thấy may mắn vì không phải là một con chó. Vui vẻ lên nào, Benedick, xua tan nỗi buồn đi thôi!"

Người đàn ông gặp rắc rối trong hôn nhân ấy nhìn xuống tôi, gương mặt thoáng nét thông minh chẳng khác nào loài chó.

"Ồ, cún con," ông ta nói, "cún con ngoan. Trông mày cứ như sắp biết nói đến nơi rồi ấy nhỉ. Sao thế, cún con... vì lũ mèo à?"

Mèo ư! Biết nói ư!

Nhưng tất nhiên, ông ta chẳng thể nào hiểu được. Con người vốn không được ban cho khả năng thấu hiểu ngôn ngữ của loài vật. Điểm chung duy nhất để chó và người có thể kết nối với nhau chỉ nằm trong thế giới hư cấu mà thôi.

Ở căn phòng đối diện với chỗ chúng tôi sống có một bà nuôi một chú chó nhỏ lông đen pha nâu. Chồng bà ta thường dắt nó đi dạo mỗi tối, nhưng lần nào trở về ông ta cũng tỏ ra vui vẻ, miệng huýt sáo líu lo. Một hôm, khi chạm mũi vào chú chó ấy ở ngoài hành lang, tôi đã gặng hỏi nó để tìm lời giải đáp.

"Này, cái thằng tung tăng, nhí nhảnh kia," tôi bảo, "mày thừa biết là chẳng có gã đàn ông đích thực nào lại đi làm 'bảo mẫu' dắt chó dạo nơi công cộng cả. Tao chưa từng thấy gã nào dắt chó mà trông không giống như thể hắn đang muốn lao vào 'sừng sộ' (gây sự với) bất cứ gã đàn ông nào nhìn mình. Thế mà ông chủ của mày ngày nào cũng xuất hiện với vẻ tươi tỉnh, hớn hở chẳng khác nào một tay ảo thuật không chuyên môn đang biểu diễn trò ảo thuật với mấy quả trứng thối. Ông ta làm thế nào hay vậy? Đừng có bảo với tao là ông ta thích làm chuyện đó đấy nhé."

"Ông ta ấy à?" con chó đốm hai màu nâu và đen lên tiếng. "Chà, ông ta dùng 'phương thuốc của tạo hóa' đấy. Ông ta cứ say khướt ra. Lúc mới ra ngoài, ông ta nhút nhát chẳng khác nào gã lính mới tò te trên con tàu biển – cái gã thà chơi 'số đề' còn hơn là tham gia mấy ván cá độ lớn. Thế mà đến quán thứ tám rồi thì ông ta chẳng còn bận tâm xem thứ đang mắc vào dây câu của mình là con chó hay con cá trê nữa. Tao đây đã mất toi hai đốt đuôi chỉ vì cố tránh mấy cánh cửa xoay đấy."

Những gợi ý mà tôi nhận được từ chú chó đốm kia— quý vị hãy lưu ý nhé—đã khiến tôi phải suy nghĩ.

Một buổi tối nọ, vào khoảng 6 giờ, bà chủ ra lệnh cho ông chồng phải nhanh chóng thực hiện "màn trình diễn hít thở không khí ngoài trời" với "Cún Thương". Đến tận bây giờ tôi mới tiết lộ, nhưng đó chính là cái tên mà bà ấy dùng để gọi tôi. Còn con đốm màu đen pha nâu kia thì được chủ nó gọi là "Cục Cưng". Xét về mọi mặt, tôi thấy mình vẫn "nhỉnh" hơn nó nhiều; thế nhưng, cái tên "Cún Thương" chẳng khác nào một chiếc lon thiếc buộc vào đuôi, làm tổn hại đến lòng tự trọng của tôi vậy.

Tại một góc yên tĩnh trên con phố an toàn, tôi ghì chặt dây dắt, dừng lại trước một quán rượu trông thật lịch lãm và tinh tế. Tôi vội vã lao thẳng về phía cửa, rên rỉ như chú cún trong mấy mẩu tin báo – kiểu rên rỉ báo hiệu cho cả nhà biết rằng cô bé Alice đang bị mắc kẹt dưới suối trong lúc hái hoa loa kèn.

"Chà, lạ thật đấy," ông chủ nói, miệng nở nụ cười; "lạ thật, cái con có màu vàng như nghệ này lại đang mời mình vào làm một ly kìa. Để xem nào... đã bao lâu rồi nhỉ, kể từ lần cuối mình được dừng chân thảnh thơi gác chân lên bệ đỡ? Chắc là mình sẽ..."

Tôi biết mình đã tóm được ông ta. Ông ta ngồi tại bàn, liên tục gọi những ly rượu Scotch. Suốt một tiếng đồng hồ, ông ta cứ gọi hết ly này đến ly khác. Tôi ngồi cạnh, dùng đuôi gõ nhịp ra hiệu cho người hầu bàn, rồi thản nhiên thưởng thức bữa trưa miễn phí—thứ đồ ăn ngon lành mà bà chủ của tôi, dù có cố gắng đến mấy trong căn phòng của mình, cũng chẳng bao giờ sánh bằng; ngay cả khi bà ta vội vã chạy ra cửa hàng thực phẩm mua vài món đồ ăn sẵn, chỉ tám phút trước giờ ông chủ tôi về nhà.

Khi những món đặc sản từ Scotland đã cạn sạch, chỉ còn lại ổ bánh mì lúa mạch đen, ông chủ gỡ tôi ra khỏi chân bàn rồi dẫn tôi ra ngoài, khéo léo điều khiển như cách một ngư dân dìu con cá hồi. Ở bên ngoài, ông tháo vòng cổ của tôi ra rồi ném thẳng xuống đường.

"Tội nghiệp cún con," ông chủ nói; "cún ngoan nào. Bà ấy sẽ không hôn mày nữa đâu. Thật là đáng thương. Cún ngoan, đi chỗ khác rồi để xe điện cán qua đi, thế là mày sẽ được hạnh phúc đấy."

Tôi nhất quyết không rời đi. Tôi nhảy cẫng lên, tung tăng chạy quanh đôi chân ông chủ, vui sướng hệt như một chú chó nhỏ đang nằm cuộn mình trên tấm thảm êm ái.

"Này cái lão già đầu đầy bọ chét, lực sĩ ba mươi sáu xương sườn kia," tôi bảo ông ta—"ông không thấy là tôi chẳng hề muốn rời xa ông hay sao? Ông không thấy là cả hai chúng ta đều đang là những 'chú cún trong rừng', còn bà chủ thì chẳng khác nào kẻ độc ác đang đuổi theo chúng ta—bà ấy cầm khăn lau bát đĩa đuổi theo ông, còn tôi thì bị bà ấy nhắm đến với lọ thuốc trị bọ chét cùng một chiếc nơ hồng định buộc vào đuôi tôi đấy ư? Chả lẽ tôi lại bỏ ông ở lại chịu khổ một mình hay sao? Hay là thôi mấy chuyện vặt vãnh đó đi, rồi chúng ta làm bạn đồng hành với nhau mãi mãi nhé? Ông đã từng nghe câu: 'Con không chê cha mẹ khó, Chó không chê chủ nghèo' hay chưa? Thật ra thì vẫn còn sướng chán, vì nghe nói ở Việt Nam, cỡ tôi và con đốm kia, chẳng sớm thì muộn, cũng phải nhẩy vào nồi rựa mận làm mồi để cho mấy thằng cha răng hô bàn cuốc, lúc nào cũng vắt vẻo trên môi điếu thuốc lá rẻ tiền khét lẹt, cả ngày chỉ mặc xa lỏn, áo thung, gãi háng xồn sột, nhậu với mấy xị đế mà thôi!"

Có lẽ quý vị sẽ bảo là ông ấy chẳng hiểu gì cả—có thể như vậy thật. Nhưng ông ấy, xem ra, cũng dần hiểu được chuyện, rồi đứng lặng một lúc để suy nghĩ.

"Này cún con," cuối cùng ông ấy lên tiếng, "đời người trên thế gian này chẳng mấy ai sống quá mười hai kiếp, và cũng chẳng mấy ai thọ được hơn 300 tuổi. Nếu ta đây còn dính dáng đến cái căn phòng 'u tối' đó nữa thì đúng là đời ta cũng ... 'tối u' thật sự, còn nếu cún mày dính vào thì đời mày cũng chẳng 'sáng sủa' gì đâu cún ạ; mà nói thế chẳng phải là nói mò, đoán bậy gì đâu nhé. Ta đánh cá với tỉ lệ 60 ăn 1 rằng chắc như bắp sẽ là như vậy."

Chẳng có sợi dây ràng buộc nào cả, nhưng tôi vẫn tung tăng theo ông chủ đến bến phà phố Hai mươi ba. Những chú mèo trên dọc đường đi hẳn phải thấy thật may mắn khi tạo hóa đã ban cho chúng bộ móng vuốt có khả năng bám chặt.

Khi sang đến phía Jersey, ông chủ tôi nói với một người lạ đang đứng ăn chiếc bánh nướng:

"Tôi và con cún này đang trên đường đến dãy núi Rocky đây."

Hiển nhiên là ông ta có ý nói là hai chúng tôi sẽ đi trên con đường khó như leo núi, thế nhưng "Đường đi khó, không khó vì lội sông leo núi" phải không quý vị?

Nhưng điều làm tôi vui sướng nhất là khi ông chủ túm lấy cả hai tai tôi, kéo mạnh đến mức tôi phải rú lên, rồi bảo:

"Này cún con, đầu khỉ đuôi chuột, mình thì vàng khè như lưu huỳnh, rẻ mạt như tấm thảm chùi chân kia, mi có biết ta định đặt tên cho mi là gì không?"

Tôi thoáng nghĩ đến cái tên "Cục Cưng", rồi rên rỉ một cách đầy thê thảm.

"Ta sẽ gọi mi là 'Pete'," ông chủ nói. 

Pete, ôi tuyệt vời, một cái tên bình thường, đầy nam tính, không màu mè, giả dối như "Cục Cưng" mà bà chủ đã gán cho tôi; và nếu lúc đó tôi có tới năm cái đuôi thì chắc tôi cũng chẳng thể vẫy đủ mạnh để bày tỏ hết niềm vui sướng của mình trong khoảnh khắc ấy. 

Bùi Phạm Thành

Nguyên tác:

Memoirs of a Yellow Dog
by O. Henry



No comments

Powered by Blogger.